Hiển thị các bài đăng có nhãn nghề cá thế giới. Hiển thị tất cả bài đăng

Thức ăn tốt hơn, công nghệ cải tiến giúp thúc đẩy sự tăng trưởng của tôm Ecuador


Jose Antonio Camposano, Giám đốc điều hành Phòng nuôi trồng thủy sản của Ecuador, cho biết: Sự cải tiến công nghệ và thức ăn tốt hơn đang đẩy sản lượng tôm của Ecuador lên các mức kỷ lục,.

Tuy nhiên, theo một số nguồn tin của Undercurrent News, nguồn cung ấu trùng thấp hơn đe dọa sự tăng trưởng trong tương lai.

Camposano nói với Undercurrent trong một cuộc phỏng vấn tại Triển lãm Aqua Expo Guayaquil 2017 gần đây rằng ngành tôm vẫn cam kết giảm việc sử dụng các loại kháng sinh, mức sử dụng đã “rất thấp” so với các nước khác.

Ông cho biết: Các nhà sản xuất ở Ecuador cũng sử dụng nhiều phương pháp cải tiến công nghệ hơn vào sản xuất tôm. Các cải tiến này bao gồm nhiều máy cho ăn tự động, máy sục khí hơn để tăng oxy và tái sử dụng nước, xử lý nước và sử dụng probiotic ngoài việc cải tiến thức ăn và di truyền học.

Ông Camposano cho biết: Ngành nuôi tôm Ecuador “tiếp tục học hỏi”. Với những tiến bộ công nghệ, trách nhiệm của chúng tôi với tư cách là một trong những nhà cung cấp tôm chính cho thế giới là mở hướng đi cho ngành tôm”.

Camposano cho biết việc tiếp tục nâng cấp công nghệ đã cải thiện việc nuôi tôm và tỷ lệ sống của tôm tại các trại nuôi, dẫn đến sản lượng tôm cao hơn mà không làm tăng mật độ.

Ông nói thêm rằng việc tăng mật độ trang trại sẽ cần phải đi kèm với việc nâng cấp “đầy đủ” về công nghệ.

Ông Camposano cũng cho biết ngành tôm nước này đã tuân theo các tiêu chuẩn tốt hơn để “thách thức các đối thủ cạnh tranh của mình”, giới thiệu một hệ thống sản xuất đã “tạo ra những kết quả hấp dẫn với sự minh bạch”.

Tăng trưởng sản lượng

Ông Camposano nói với Undercurrent: Từ tháng 1 đến tháng 8/2017, Ecuador đã sản xuất được tổng cộng 620 triệu pao (281.227 tấn) tôm, trị giá 1,9 tỷ USD. Con số này đánh dấu mức tăng trưởng 15% so với cùng kỳ năm ngoái cả về giá trị và khối lượng, vì giá vẫn ổn định.

Sản lượng tôm tháng 7/2017 giảm 20% so với cùng kỳ năm trước, do nhiệt độ lạnh hơn so với tiêu chuẩn được bù đắp bởi sự tăng trưởng sản lượng tôm trong những tháng khác của năm.

Việc giảm sản lượng tôm trong tháng 7 là điều bình thường. Ông Camposano cho biết: Năm nay, tình trạng này đáng chú ý hơn một chút, bởi vì mùa mưa - do hiện tượng El Nino - kéo dài đến tháng 5 và tháng 6 thay vì kết thúc vào tháng 4 và sự khởi đầu của mùa “lạnh” đã bị trì hoãn một chút.

Sản lượng tôm của Ecuador vào tháng 8 đã tăng khoảng 9% so với cùng kỳ năm ngoái ở mức 73 triệu pao (32.000 tấn), trị giá 220 triệu USD.

Về dự báo tổng sản lượng năm 2017, Camposano vẫn bảo thủ hơn so với một số nhà sản xuất, dự báo tăng trưởng 8-9% so với năm 2016 đến 870-880 triệu pound tôm (394.625-399.161 tấn).

Sandro Coglitore, người điều hành trại nuôi tôm và nhà chế biến Omarsa, nói với Undercurrent: Sản lượng tôm chân trắng ở Ecuador vào năm 2017 dường như dễ dàng vượt qua mức 400.000 tấn,.

Chủ tịch Công ty nuôi và chế biến tôm Songa, Ông Rodrigo Laniado Romero, nói rằng nếu tốc độ tăng trưởng trong tám tháng đầu năm tiếp tục cho đến cuối năm, Ecuador có thể đạt được tổng sản lượng 421.565 tấn.

Năm 2016, Ecuador xuất khẩu tổng cộng 799,8 triệu pound tôm (362.808 tấn), tăng 11% so với năm 2015.

Nguồn cung ấu trùng tôm là một thách thức

Một số nguồn tin của Undercurrent ở Ecuador chỉ ra rằng nguồn cung ấu trùng là một thách thức cho ngành tôm, điều này có thể làm chậm tăng trưởng. Theo một số nguồn tin, đây là một vấn đề đã tồn tại từ năm ngoái, nhưng, bất chấp điều này, sản lượng tôm của Ecuador vẫn tiếp tục tăng trong năm 2017 so với năm ngoái.

Tuy nhiên, một số nguồn tin cho biết vấn đề đang trở nên nghiêm trọng hơn.

Một nguồn tin cho biết: “Ấu trùng chết với số lượng lớn xảy ra ở nhiều nơi không chỉ ở khu vực bán đảo. Người nuôi phải cẩn thận trong việc lựa chọn ấu trùng, Vấn đề này sẽ phải được xử lý một cách cẩn trọng, Sản lượng tôm trong tương lai sẽ giảm do thiếu ấu trùng có chất lượng”.

Vấn đề này đã khiến các phòng thí nghiệm ở bán đảo Santa Elena phải đóng cửa.

Hiện nay, 3 phòng thí nghiệm đã đóng cửa và đang được rao bán, hơn 20 phòng thí nghiệm đã được cách ly tự động để làm khô và khử trùng, những phòng thí nghiệm khác tiếp tục bị nhiễm virus và kết quả là tình trạng thiếu ấu trùng tôm mà không ai có thể ngăn chặn tạo nên một tình trạng hết sức nghiêm trọng cho Ecuador.

Tuy nhiên, một nguồn tin từ Undercurrent cho biết, vấn đề này chỉ giới hạn ở Zona de Mar Bravo - Salinas, trong khi nó không ảnh hưởng đến các phòng thí nghiệm ở Manabi hoặc ở phía bắc, cũng như ở Esmeraldas. Nguồn tin cho biết bệnh ảnh hưởng đến ấu trùng là hội chứng chết sớm.

Các thị trường xuất khẩu

Ông Camposano ghi nhận: Châu Á là điểm đến chính của tôm Ecuador hiện nay.

Camposano nhấn mạnh rằng thị trường Hoa Kỳ, nơi việc tiêu thụ tôm đang phát triển, có tiềm năng lớn cho các nhà sản xuất tôm ở Ecuador để tăng xuất khẩu.

Thị trường tôm Liên minh châu Âu vẫn ổn định, nhờ thỏa thuận thương mại tự do giảm thuế nhập khẩu đối với tôm Ecuador từ 3,6% xuống 0% vào đầu năm nay.

Ông nói: “Điều này đã cho phép nhà nhập khẩu châu Âu và nhà xuất khẩu Ecuador yên tâm tiếp tục việc kinh doanh”.

Ông Camposano cho biết: Xuất khẩu tôm sang châu Âu tăng trưởng không nhiều, nhưng điều quan trọng là Ecuador đã giữ thị phần của mình, và ông chỉ ra rằng Ecuador là nhà xuất khẩu tôm chính sang châu Âu, với 24% thị trường, tiếp đó là Ấn Độ.

Ông Camposano nói: Ecuador đã sẵn sàng thay thế và tăng doanh số bán tôm sang EU, nếu Ấn Độ bị tẩy chay với lệnh cấm nhập khẩu vào cuối năm nay.

Đề cập đến khả năng lệnh cấm của EU đối với tôm Ấn Độ, Camposano lưu ý rằng “Nếu các cơ quan chức năng không áp dụng các biện pháp trừng phạt thích hợp, các nước không điều chỉnh các hoạt động nuôi của mình sẽ tiếp tục tái phạm”.

Đề cập đến việc sử dụng kháng sinh, Ông Camposano cho biết Ecuador đã dẫn đầu một sáng kiến ​​“thay đổi nuôi trồng thủy sản trên thế giới” về tính minh bạch và khả năng truy xuất nguồn gốc.

Ông nói: “Việc sử dụng kháng sinh ở Ecuador rất ít so với các nước khác và ngày nay chúng tôi có 8-10% trang trại không sử dụng kháng sinh trong bất kỳ giai đoạn nào và chúng tôi muốn tăng quy mô này”.

Trong khi đó, các nhà sản xuất tôm ở Ecuador đang chờ sự mở cửa của thị trường Braxin, sau khi đã đăng ký xuất khẩu tôm.

Camposano cho biết: “Các công ty đã được phép xuất khẩu và đang chờ đợi việc ghi nhãn được chấp thuận”, ông nhấn mạnh rằng việc xuất khẩu tôm không gây nguy cơ cho sản xuất tôm của Braxin, do Hiệp hội các nhà sản xuất tôm địa phương ABCC, Braxin đã tuyên bố phản đối việc tự do hoá thị trường tôm trong nước.

HNN (Theo undercurrentnews)

Báo cáo của WWF yêu cầu Nhật Bản thông qua chương trình giám sát các sản phẩm thủy sản


Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF) Nhật Bản đã công bố một báo cáo vào tháng 9 về khả năng các sản phẩm hải sản được khai thác bất hợp pháp, không được báo cáo và không được kiểm soát (IUU) sẽ nhập vào thị trường Nhật Bản và đưa ra các khuyến nghị để ngăn chặn tình trạng này.

Báo cáo “Rủi ro đánh bắt IUU ở Nhật Bản và xung quanh Nhật Bản” khuyến cáo rằng Nhật Bản nên phát triển hệ thống chứng nhận khai thác tương tự như giấy chứng nhận khai thác của Liên minh Châu Âu hoặc Chương trình Giám sát Nhập khẩu Thủy sản của Hoa Kỳ, bao gồm nhận dạng chuỗi cung ứng cho tất cả thủy sản và các sản phẩm thủy sản nhập khẩu vào thị trường này, với việc xác định tàu, ngày, và vị trí của hoạt động đánh bắt, cũng như xác định các loài nhập khẩu vào nước này.

Trong báo cáo, 50 loài hải sản được đánh giá theo sáu tiêu chí, và từ đó, 10 loài đã được lựa chọn để đánh giá rủi ro chi tiết, dựa vào tiềm năng sản lượng đánh bắt của IUU gia nhập vào chuỗi cung ứng. Trong số những loài này, cá chình, cá bơn và cá hồi Thái Bình Dương được tìm thấy là những loài có nguy cơ cao hơn. Cua hoàng đế và cua Tanner có nguy cơ cao trung bình, trong khi đó cá trích, cá thu và bạch tuộc có nguy cơ thấp và trung bình.

Maya Takimoto của WWF Japan cho biết trong một thông cáo báo chí kèm theo báo cáo: “Để ngăn chặn các sản phẩm thủy sản IUU không vào thị trường Nhật Bản, một chuỗi cung ứng minh bạch từ nguồn đến người tiêu dùng cho tất cả thủy sản và các sản phẩm thủy sản nhập khẩu là cần thiết”.

Đối với các loài có nguy cơ cao như cá chình, cá bơn và cá hồi Thái Bình Dương, cần xác định rõ loài và vị trí của hoạt động đánh bắt. Đối với hai loài cá chình và cá bơn, điều này là do có nhiều loài khi chế biến không dễ phân biệt được. Ví dụ, do trữ lượng cá chình của Nhật thấp, các nhà nhập khẩu có thể thay thế các loại cá chình khác và áp lực lên các nguồn lợi thủy sản này có thể không được nhận thấy thông qua dữ liệu nhập khẩu. Các loại cá dẹt, chẳng hạn như cá bơn, cũng thuộc nhiều loài có thể được thay thế mà không bị chú ý. Hiện nay, số liệu thống kê cá chình và cá bơn được phân loại rộng rãi như “cá chình nei” (không bao gồm cá chình ở những nơi khác), và “cá bơn nei” mà không có thông tin về loài.

Mặc dù có ít loài cá hồi Thái Bình Dương hơn và không dễ thay thế cho nhau, nhưng thông tin về vị trí của hoạt động đánh bắt là rất quan trọng, bởi vì cá đang trong tình trạng bị đe dọa hoặc đánh bắt quá mức có thể bị sai lệch do xuất phát từ các khu vực khác.

Mặc dù báo cáo khuyến cáo sự phát triển của một hệ thống theo dõi phản ánh giống của Hoa Kỳ và E.U, nhưng nó không chỉ ra Nhật Bản là đặc biệt xấu về IUU.

Báo cáo chỉ ra “Thông thường, số lượng thủy sản IUU thấp trên thị trường và các chuỗi cung ứng”, lưu ý rằng mức độ kiểm tra và các biện pháp kiểm soát tại chỗ khác trong chuỗi cung ứng cũng tương tự như ở nhiều nước phát triển khác.

Liên minh châu Âu và Hoa Kỳ đã và đang thực hiện các hệ thống trong những năm gần đây để giảm sự xâm nhập của sản phẩm IUU vào thị trường. Giấy chứng nhận khai thác và sự công nhận các giấy chứng nhận khai thác của các quốc gia hợp tác là những yếu tố chính của các hệ thống.

Trong cả hai chương trình, tài liệu của các Tổ chức Quản lý Nghề cá Khu vực (RFMO's) có thể được thay thế cho các thủ tục giấy tờ yêu cầu này. (Báo cáo lưu ý rằng dữ liệu từ RFMO cũng đã được sử dụng ở Nhật Bản đối với một số loài, bao gồm cả cá thu và cá ngừ vây xanh).

Các chương trình thay đổi một chút. Châu Âu bao gồm tất cả các loài, trong khi các loài được bảo vệ theo chương trình của Mỹ là cá tuyết Đại Tây Dương, cua xanh (Đại Tây Dương), cá nục heo, cá mú, cua hoàng đế (đỏ), cá tuyết Thái Bình Dương, cá chỉ vàng, hải sâm, cá mập, cá kiếm và cá ngừ (cá ngừ vây dài, cá ngừ mắt to, cá ngừ vằn, cá ngừ vây xanh và cá ngừ vây vàng). Bào ngư và tôm sẽ được thêm vào sau.

Cả các chương trình của EU và Hoa Kỳ đều nhằm vào hàng nhập khẩu, nhưng loại trừ hải sản đánh bắt trong nước để tiêu dùng trong nước. Chương trình Hoa Kỳ không áp dụng cho xuất khẩu của Hoa Kỳ, mặc dù nó áp dụng khi hải sản đánh bắt của Hoa Kỳ gồm các loài trên được chế biến ở các nước khác và tái nhập khẩu.

Trung Quốc đã phản đối lên Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) về Chương trình Giám sát Nhập khẩu Thủy sản của Hoa Kỳ trên các cơ sở đối xử không công bằng và đòi hỏi thủ tục giấy tờ phiền toái và theo dõi ngay cả khi việc theo dõi không chỉ ra được một cách khoa học cho thấy làm giảm nguy cơ.

Đại diện Trung Quốc đưa ra các quy định của Hoa Kỳ tại cuộc họp của Ủy ban về Các biện pháp Vệ sinh và Kiểm dịch động thực vật của WTO (SPM), lập luận rằng chương trình giám sát sẽ đi ngược lại nghĩa vụ thủ tục đưa ra thông báo chính thức của WTO trước đề nghị này và cho phép các thành viên bình luận. Mỹ đã phản hồi rằng đề xuất này là một phần trong nỗ lực chống lại đánh bắt cá trái phép, và do đó nằm ngoài phạm vi của Ủy ban là chủ yếu liên quan đến các biện pháp an toàn và sức khoẻ.


Nhập khẩu tôm của Mỹ tăng 5,7% trong tháng 8


Nhập khẩu tôm của Mỹ tăng 5,7% trong tháng 8 so với cùng kỳ năm ngoái, với sự gia tăng lớn từ Ấn Độ, Trung Quốc và Việt Nam mặc dù nhập khẩu từ Thái Lan, Inđônêxia và Ecuador giảm.

Theo số liệu của Cục Quản lý Khí quyển và Đại dương Quốc gia, Mỹ nhập khẩu 61.902 tấn tôm vào tháng 8 năm 2017, so với 58.554 tấn một năm trước đó. Tính theo giá trị, nhập khẩu tôm tháng 8 năm 2017 đạt 610,3 triệu USD, tăng 9,8% so với mức 555,4 triệu USD vào tháng 6 năm 2016.

Trong tám tháng đầu năm 2017, tôm nhập khẩu - bao gồm tất cả các loài tôm và các dạng sản phẩm và bao gồm các sản phẩm giá trị gia tăng như tôm tẩm bột - tổng cộng 409.017 tấn trị giá 3,95 tỷ USD. Con số này đã tăng 9% về khối lượng và 14,8% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016.

Giá tôm nhập khẩu cũng tăng. Vào tháng 8 năm 2017, giá nhập khẩu tôm trung bình là 9,85 USD/kg. Vào tháng 8 năm 2016, cùng một kg chỉ có giá 9,47 USD.

Thị phần tương đối của các nhà xuất khẩu của thị trường đã thay đổi. Về khối lượng, 7 nước đã chiếm phần lớn lượng tôm nhập khẩu của Mỹ trong tám tháng đầu năm 2017.

Các nước này là Ấn Độ (31,5%), Inđônêxia (18,4%), Ecuador (12,2%), Thái Lan (10,9%), Việt Nam (8,4%), Trung Quốc (7,3%) và Mexico (2,4%).

Trong tám tháng đầu năm 2016, Ấn Độ có thị phần lớn nhất (23,6%), tiếp theo là Inđônêxia (21,3%), tiếp theo là Ecuador (13,4%), Thái Lan (12,8%), Việt Nam (9,8%), Trung Quốc ( 5,7%) và Mexico (3,4%).